Máy ép bùn ly tâm DC6
Xuất xứ: Thượng Hải - Trung Quốc
Công suất ép bùn: 3 - 7 m3/h
1. Các thông số kỹ thuật
2.1 Đường tính
tối đa của lồng quay: 350 mm
2.2 Chiều dài
của lồng quay: 1550
mm
2.3 Loại lồng
quay: hình phễu.
2.4 Loại trục
vít: một đầu, quay trái, nhìn từ phía trước.
2.5 Góc phễu: 2 x 80
2.6 Tốc độ
quay của lồng quay: 0 – 4800 v/ph
2.7 Biên độ ép
tối đa: 2600g
2.8 Chênh lệch
tốc độ giữa lồng quay và trục vít: 10 – 20 v/ph
Chênh
lệch tốc độ được chọn bằng cách dựa vào sự thay đổi đai truyền sao cho đúng như
yêu cầu và phù hợp với kích thước hạt
thô cần nén.
2.9 Công suất
ép: Lưu lượng tối đa: 3 – 8 m3/h
Lưu
ý: Thực tế thì điều này phụ thuộc vào nhu cầu và các đặc điểm của loại chất rắn
(bùn) cần nén.
2.10 Công suất
động cơ: 7.5 Kw
2.11 Loại động
cơ: Chính Y160L2-2
Từ
hình vẽ ta thấy cấu tạo của máy ép bùn ly tâm bao gồm lồng quay, trục vít, hộp
giảm tốc, ổ trục chính, khung, bồn để thu nước sau khi lọc, chụp hút bùn, hệ
thống động cơ và hộp điều khiển điện…. Thông thường khi máy chạy, động cơ dẫn
động lồng quay và trục đầu vào của bộ giảm tốc chạy các tốc độ khác biệt n1
và n2 qua đai truyền. Vì vậy, trục vít tạo ra sai số vận tốc ∆n là
số không đổi so với vận tốc lồng quay khi đang vận chuyển chất rắn đã được ép.
Bùn
được cho vào máy qua bình áp lực, van và đường ống đầu vào (xem hình). Các hạt
thô chảy vào lồng quay qua cánh quạt gia tốc. Dưới tác động của lực ly tâm, bùn
được tách ra. Hầu hết nước trong bùn đều được qua bộ lọc ở đáy lồng quay. Sau
đó, chất lỏng thoát ra ngoài ngay sau khi chảy qua thùng chứa. Ngược lại, cặn
bùn được chuyển từ phễu nhỏ sang phễu lớn bằng trục vít quay. Ngay sau khi chất
kết tủa ở phễu nhỏ được đẩy ra ngoài bằng trục vít, bùn vừa cho vào sẽ tạo ra
lớp cặn mới được giữ lại ở thiết bị lọc. Chất kết tủa giữ lại đó được đẩy ra,
cô cạn nước và cuối cùng được ép bằng trục vít đẩy ở cuối thùng chứa lớn. Cuối
cùng, cặn bùn được đẩy ra ngoài sau khi chúng được thu bởi thiết bị thu bùn.
Kết
quả của quá trình như cung cấp nguyên liệu, tẩy rửa, cô cạn nước và xả thải
không bị gián đoạn, và ép bùn kín, tách bùn có thể được thực hiện ở trong lồng
quay. Nó không những dễ dàng cho việc vận hành mà còn đảm bảo vệ sinh. Rất
thuận tiện khi đổi máy sang cấu tạo chống cháy nổ.
3. Lựa chọn các thông số vận hành.
Để
có được quá trình ép bùn hiệu quả, khách hàng nên chọn các thông số vận hành
của máy ép bùn dựa trên đặc tính của nước cần xử lý, yêu cầu về hàm lượng tách
bùn và nước, công suất xử lý và các yếu tố khác như lưu lượng cần xử lý Q, tốc
độ lồng quay n, chênh lệch tốc độ ∆n giữa lồng quay và trục vít, đường kính
vách ngăn chất lỏng D, vvv…
Cùng
với việc tăng tốc độ lồng quay, gia tăng hệ số tách lọc, hiệu suất ép bùn, và
nâng cao khả năng xử lý, thì ngược lại độ rung ồn của máy ép bùn ngày càng lớn,
kết quả là tuổi thọ của máy ngắn
hơn. Đặc biệt trong các trường hợp cần
định lượng polime, lồng quay với tốc độ lớn sẽ phá vỡ sự lắng kết tủa thay vào
đó là dạng keo tụ, điều này sẽ làm tăng lượng polime. Vì vậy tốc độ lồng quay
được tối ưu hoá. Lựa chọn tốc độ lồng quay rất quan trọng trong quy trình ép.
Tốc độ lồng quay tối đa là 4800 v/ph.
4.2
Lưu lượng bùn đầu vào ( Công suất ép) Q
Nếu
lượng bùn đầu vào thấp, hợp chất cần xử lý sẽ đi vào bên trong lồng quay với
tốc độ lưu lượng trục quay thấp. Vì vậy, thời gian hợp chất giữ lại trong lồng
quay lâu hơn. Điều này sẽ tăng hiệu quả ép. Nếu lượng bùn vào nhiều, tốc độ lưu
lượng trục sẽ cao hơn, thời gian bùn lưu chuyển trong lồng quay sẽ ít hơn dẫn
đến hiệu quả ép sẽ thấp hơn. Ngoài ra lượng bùn đầu vào cũng bị giới hạn bởi
công suất đầu ra của bánh bùn chảy ra từ trục vít. Khi độ đặc của chất rắn trong hợp chất đầu vào cao, và tỷ lệ lưu lượng
đầu vào quá cao, chất quá rắn được tách ra từ hợp chất đầu vào dưới tác động
của lực ly tâm sẽ không bị đẩy ra khỏi lồng quay lúc đó. Vì vậy mà sẽ gây ra
tắc ở lồng quay và ảnh hưởng đến quá trình tách ép. Đôi khi có thể gây tắc và
hỏng máy. Chính vì vậy mà luợng bùn đầu vào nên tính toán dựa trên độ đặc
của bùn và yêu cầu xử lý. Thông thường hiệu suất ép được so sánh qua lưu lượng
đầu vào khác nhau để quyết định mức đầu vào thích hợp nhất.
4.3
Đường kính vách ngăn chất lỏng D (Liquid Board Diameter D).
Chiều
dài của vùng sấy khô và vùng chứa bùn trong lồng quay có thể thay đổi bằng cách
điều chỉnh đường kính của vách ngăn chất
lỏng ở cuối lồng quay lớn. Nếu đường kính của vách ngăn chất lỏng nhỏ hơn thì
tăng vùng chứa cặn bùn và giảm vùng thoát
nước. Độ dày của thùng chứa chất lỏng trên thành lồng quay tăng. Do vậy,
chất lỏng dưới tác động của lực ly tâm chứa ít chất rắn hơn. Ngược lại, nếu
đường kính vách ngăn chất lỏng lớn, thì giảm khu chứa cặn bùn và tăng diện tích
thoát nước. Chất lỏng dưới tác động của lực ly tâm chứa nhiều chất rắn hơn làm
cho hiệu suất ép giảm xuống. Kết quả là, nồng độ chất lỏng trong chất rắn được
xả ra sẽ giảm. Vì vậy, kích thước của vách ngăn chất lỏng nên được quyết định
dựa trên các yếu tố tổng quan và được tính toán sau khi thử nghiệm.
4.4
Sai số của tốc độ (chênh lệch tốc độ ∆n) khi khởi động giữa lồng quay và trục
vít.
Nếu mức sai số của tốc độ thấp, trục vít làm
chất lỏng ít nhiễu loạn và hiệu suất ép bùn sẽ tốt hơn. Thời gian lưu bùn trong
khu thoát nước lâu hơn, bùn đầu ra sẽ khô hơn. Công suất xả bùn ra sẽ giảm và nó rất dễ bị tắc. Ngược lại, nếu sai
số tốc độ ∆n cao, trục vít sẽ
làm sản sinh nhiều nhiễu trong chất lỏng và hiệu suất ép sẽ kém đi. Thời gian
lưu trú của cặn bùn trong lồng quay ngắn hơn. Cặn bùn trong bánh bùn ra sẽ
tăng. Công suất bùn ra sẽ được tăng lên. Thông thường, lựa chọn chênh lệch tốc
độ dựa trên cặn bùn của hợp chất bùn cần xử lý. Tóm lại, chênh lệch tốc độ càng
cao thì hàm lượng cặn bùn càng cao và ngược lại. Độ sai số của tốc độ khi khởi
động lựa chọn dựa trên kết quả thử nghiệm, yêu cầu ép, công suất ép và một số
nhân tố khác. Độ sai số tốc độ có thể thay đổi bằng cách điều chỉnh dây curoa.
Thông thường, mức chênh lẹch này là từ 5 đến 30 v/ph.
4.5 Chất lơ lửng trong chất lỏng.
Chất lơ lửng có kích thước càng lớn thì càng
dễ tách. Hiệu quả quá trình tách nước bị hạn chế bởi kích thước các hạt chất
rắn. Các hạt có kích thước nhỏ hơn kích thước ép sẽ bị cuốn vào nước đã qua lực
ly tâm. Mật độ chênh lệch giữa chất lỏng và pha rắn càng lớn thì càng dễ để
tách. Độ liên kết của chất rắn càng nhỏ càng dễ bị tách. Ngược lại những điều
trên thì rất khó tách. Vì lý do này nên bùn phải quay ly tâm để tăng hiệu suất
tách. Các phương pháp xử lý có thể là điều chỉnh nhiệt độ và lượng polime cho
hợp, điều này sẽ làm tăng tốc độ lắng tự do và làm giảm sự liên kết của các
chất.
CHI TIẾT XIN LIÊN HỆ: 0977.451.703


ép kính cảm ứng smartphone tphcm nếu bạn ở hcm bạn có thể tham khảo thêm dịch vụ địa chỉ thay kính cảm ứng điện thoại cao cấp tại trung tâm bảo long bắc hải để nhận phụ vụ tốt nhất giá thành phải chăn. Một trung tâm uy tín chuyên sửa lỗi bể kính ở màn hình cảm ứng ở các dòng smartphone. Thank các bạn đã đọc bài viết.
Trả lờiXóa