Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2014

Nguyên lý vận hành máy ép bùn ly tâm - 0977 451 703

Máy ép bùn ly tâm DC6
Xuất xứ: Thượng Hải - Trung Quốc
Công suất ép bùn: 3 - 7 m3/h
1. Các thông số kỹ thuật
2.1 Đường tính tối đa của lồng quay: 350 mm
2.2 Chiều dài của lồng quay:             1550 mm
2.3 Loại lồng quay:                              hình phễu.
2.4 Loại trục vít:                                  một đầu, quay trái, nhìn từ phía trước.
2.5 Góc phễu:                                      2 x 80
2.6 Tốc độ quay của lồng quay:           0 – 4800 v/ph
2.7 Biên độ ép tối đa:                           2600g
2.8 Chênh lệch tốc độ giữa lồng quay và trục vít: 10 – 20 v/ph
Chênh lệch tốc độ được chọn bằng cách dựa vào sự thay đổi đai truyền sao cho đúng như  yêu cầu và phù hợp với kích thước hạt thô cần nén.
2.9 Công suất ép: Lưu lượng tối đa: 3 – 8 m3/h
Lưu ý: Thực tế thì điều này phụ thuộc vào nhu cầu và các đặc điểm của loại chất rắn (bùn) cần nén.
2.10 Công suất động cơ: 7.5 Kw
2.11 Loại động cơ: Chính Y160L2-2

Từ hình vẽ ta thấy cấu tạo của máy ép bùn ly tâm bao gồm lồng quay, trục vít, hộp giảm tốc, ổ trục chính, khung, bồn để thu nước sau khi lọc, chụp hút bùn, hệ thống động cơ và hộp điều khiển điện…. Thông thường khi máy chạy, động cơ dẫn động lồng quay và trục đầu vào của bộ giảm tốc chạy các tốc độ khác biệt n1 và n2 qua đai truyền. Vì vậy, trục vít tạo ra sai số vận tốc ∆n là số không đổi so với vận tốc lồng quay khi đang vận chuyển chất rắn đã được ép.
Bùn được cho vào máy qua bình áp lực, van và đường ống đầu vào (xem hình). Các hạt thô chảy vào lồng quay qua cánh quạt gia tốc. Dưới tác động của lực ly tâm, bùn được tách ra. Hầu hết nước trong bùn đều được qua bộ lọc ở đáy lồng quay. Sau đó, chất lỏng thoát ra ngoài ngay sau khi chảy qua thùng chứa. Ngược lại, cặn bùn được chuyển từ phễu nhỏ sang phễu lớn bằng trục vít quay. Ngay sau khi chất kết tủa ở phễu nhỏ được đẩy ra ngoài bằng trục vít, bùn vừa cho vào sẽ tạo ra lớp cặn mới được giữ lại ở thiết bị lọc. Chất kết tủa giữ lại đó được đẩy ra, cô cạn nước và cuối cùng được ép bằng trục vít đẩy ở cuối thùng chứa lớn. Cuối cùng, cặn bùn được đẩy ra ngoài sau khi chúng được thu bởi thiết bị thu bùn.



Kết quả của quá trình như cung cấp nguyên liệu, tẩy rửa, cô cạn nước và xả thải không bị gián đoạn, và ép bùn kín, tách bùn có thể được thực hiện ở trong lồng quay. Nó không những dễ dàng cho việc vận hành mà còn đảm bảo vệ sinh. Rất thuận tiện khi đổi máy sang cấu tạo chống cháy nổ.

3. Lựa chọn các thông số vận hành.
Để có được quá trình ép bùn hiệu quả, khách hàng nên chọn các thông số vận hành của máy ép bùn dựa trên đặc tính của nước cần xử lý, yêu cầu về hàm lượng tách bùn và nước, công suất xử lý và các yếu tố khác như lưu lượng cần xử lý Q, tốc độ lồng quay n, chênh lệch tốc độ ∆n giữa lồng quay và trục vít, đường kính vách ngăn chất lỏng D, vvv
Cùng với việc tăng tốc độ lồng quay, gia tăng hệ số tách lọc, hiệu suất ép bùn, và nâng cao khả năng xử lý, thì ngược lại độ rung ồn của máy ép bùn ngày càng lớn, kết quả là tuổi thọ của  máy ngắn hơn.  Đặc biệt trong các trường hợp cần định lượng polime, lồng quay với tốc độ lớn sẽ phá vỡ sự lắng kết tủa thay vào đó là dạng keo tụ, điều này sẽ làm tăng lượng polime. Vì vậy tốc độ lồng quay được tối ưu hoá. Lựa chọn tốc độ lồng quay rất quan trọng trong quy trình ép. Tốc độ lồng quay tối đa là 4800 v/ph.
4.2 Lưu lượng bùn đầu vào ( Công suất ép) Q
Nếu lượng bùn đầu vào thấp, hợp chất cần xử lý sẽ đi vào bên trong lồng quay với tốc độ lưu lượng trục quay thấp. Vì vậy, thời gian hợp chất giữ lại trong lồng quay lâu hơn. Điều này sẽ tăng hiệu quả ép. Nếu lượng bùn vào nhiều, tốc độ lưu lượng trục sẽ cao hơn, thời gian bùn lưu chuyển trong lồng quay sẽ ít hơn dẫn đến hiệu quả ép sẽ thấp hơn. Ngoài ra lượng bùn đầu vào cũng bị giới hạn bởi công suất đầu ra của bánh bùn chảy ra từ trục vít. Khi độ đặc của chất rắn trong hợp chất đầu vào cao, và tỷ lệ lưu lượng đầu vào quá cao, chất quá rắn được tách ra từ hợp chất đầu vào dưới tác động của lực ly tâm sẽ không bị đẩy ra khỏi lồng quay lúc đó. Vì vậy mà sẽ gây ra tắc ở lồng quay và ảnh hưởng đến quá trình tách ép. Đôi khi có thể gây tắc và hỏng máy. Chính vì vậy mà luợng bùn đầu vào nên tính toán dựa trên độ đặc của bùn và yêu cầu xử lý. Thông thường hiệu suất ép được so sánh qua lưu lượng đầu vào khác nhau để quyết định mức đầu vào thích hợp nhất.
4.3 Đường kính vách ngăn chất lỏng D (Liquid Board Diameter D).
Chiều dài của vùng sấy khô và vùng chứa bùn trong lồng quay có thể thay đổi bằng cách điều chỉnh  đường kính của vách ngăn chất lỏng ở cuối lồng quay lớn. Nếu đường kính của vách ngăn chất lỏng nhỏ hơn thì tăng vùng chứa cặn bùn và giảm vùng thoát  nước. Độ dày của thùng chứa chất lỏng trên thành lồng quay tăng. Do vậy, chất lỏng dưới tác động của lực ly tâm chứa ít chất rắn hơn. Ngược lại, nếu đường kính vách ngăn chất lỏng lớn, thì giảm khu chứa cặn bùn và tăng diện tích thoát nước. Chất lỏng dưới tác động của lực ly tâm chứa nhiều chất rắn hơn làm cho hiệu suất ép giảm xuống. Kết quả là, nồng độ chất lỏng trong chất rắn được xả ra sẽ giảm. Vì vậy, kích thước của vách ngăn chất lỏng nên được quyết định dựa trên các yếu tố tổng quan và được tính toán sau khi thử nghiệm.
4.4 Sai số của tốc độ (chênh lệch tốc độ ∆n) khi khởi động giữa lồng quay và trục vít.
Nếu mức sai số của tốc độ thấp, trục vít làm chất lỏng ít nhiễu loạn và hiệu suất ép bùn sẽ tốt hơn. Thời gian lưu bùn trong khu thoát nước lâu hơn, bùn đầu ra sẽ khô hơn. Công suất xả bùn ra sẽ giảm và nó rất dễ bị tắc. Ngược lại, nếu sai số tốc độ ∆n cao, trục vít sẽ làm sản sinh nhiều nhiễu trong chất lỏng và hiệu suất ép sẽ kém đi. Thời gian lưu trú của cặn bùn trong lồng quay ngắn hơn. Cặn bùn trong bánh bùn ra sẽ tăng. Công suất bùn ra sẽ được tăng lên. Thông thường, lựa chọn chênh lệch tốc độ dựa trên cặn bùn của hợp chất bùn cần xử lý. Tóm lại, chênh lệch tốc độ càng cao thì hàm lượng cặn bùn càng cao và ngược lại. Độ sai số của tốc độ khi khởi động lựa chọn dựa trên kết quả thử nghiệm, yêu cầu ép, công suất ép và một số nhân tố khác. Độ sai số tốc độ có thể thay đổi bằng cách điều chỉnh dây curoa. Thông thường, mức chênh lẹch này là từ 5 đến 30 v/ph.
4.5 Chất lơ lửng trong chất lỏng.

Chất lơ lửng có kích thước càng lớn thì càng dễ tách. Hiệu quả quá trình tách nước bị hạn chế bởi kích thước các hạt chất rắn. Các hạt có kích thước nhỏ hơn kích thước ép sẽ bị cuốn vào nước đã qua lực ly tâm. Mật độ chênh lệch giữa chất lỏng và pha rắn càng lớn thì càng dễ để tách. Độ liên kết của chất rắn càng nhỏ càng dễ bị tách. Ngược lại những điều trên thì rất khó tách. Vì lý do này nên bùn phải quay ly tâm để tăng hiệu suất tách. Các phương pháp xử lý có thể là điều chỉnh nhiệt độ và lượng polime cho hợp, điều này sẽ làm tăng tốc độ lắng tự do và làm giảm sự liên kết của các chất.

CHI TIẾT XIN LIÊN HỆ: 0977.451.703


1 nhận xét:

  1. ép kính cảm ứng smartphone tphcm nếu bạn ở hcm bạn có thể tham khảo thêm dịch vụ địa chỉ thay kính cảm ứng điện thoại cao cấp tại trung tâm bảo long bắc hải để nhận phụ vụ tốt nhất giá thành phải chăn. Một trung tâm uy tín chuyên sửa lỗi bể kính ở màn hình cảm ứng ở các dòng smartphone. Thank các bạn đã đọc bài viết.





    Trả lờiXóa